Ghép phổi là gì? Các công bố khoa học về Ghép phổi
Ghép phổi là một phương pháp y tế được sử dụng để thay thế hoặc cải thiện chức năng phổi cho những người bị suy giảm chức năng phổi nặng hoặc không khả thi để đ...
Ghép phổi là một phương pháp y tế được sử dụng để thay thế hoặc cải thiện chức năng phổi cho những người bị suy giảm chức năng phổi nặng hoặc không khả thi để điều trị bằng các phương pháp điều trị khác. Quá trình ghép phổi liên quan đến chuyển phổi từ một người khác, gọi là người hiến tặng, đến người bệnh thông qua một cuộc phẩu thuật phức tạp và tốn kém. Ghép phổi thường được thực hiện cho những người bị các bệnh về phổi nghiêm trọng như bệnh tăng huyết áp động mạch phổi, xơ phổi, bệnh mất sự linh hoạt của thông khí trong phổi, hoặc trong trường hợp phổi ngừng hoạt động hoặc suy kiệt do viêm phổi cấp tính hoặc bệnh viên cầu phổi.
Quá trình ghép phổi bao gồm các bước sau:
1. Đánh giá và xác định cơ sở: Bước đầu tiên là đánh giá và xác định liệu một bệnh nhân có phù hợp để tiến hành ghép phổi hay không. Các yếu tố được xem xét bao gồm tình trạng sức khỏe tổng quát, chức năng phổi hiện tại, tuổi tác, và sự phù hợp với tiêu chí nhận phổi từ nguồn hiến tặng.
2. Đăng ký và chờ ghép phổi: Bệnh nhân đăng ký vào danh sách chờ ghép phổi tại một trung tâm ghép phổi. Thời gian chờ đợi có thể kéo dài từ vài tháng đến nhiều năm tùy thuộc vào sự phù hợp với phổi hiến tặng và sự khẩn cấp của tình trạng sức khỏe.
3. Phẫu thuật ghép phổi: Khi phổi từ nguồn hiến tặng đã sẵn sàng, bệnh nhân được chuẩn bị cho cuộc phẩu thuật. Quá trình phẫu thuật bao gồm loại bỏ phổi tự nhiên của bệnh nhân và thay thế bằng phổi từ nguồn hiến tặng. Phẫu thuật này có thể được thực hiện thông qua hai phương pháp chính là phẫu thuật mở và phẫu thuật không mở.
- Phẫu thuật mở: Một phẫu thuật mở lớn được thực hiện bằng cách mở ngực để tiếp cận phổi và tiến hành ghép. Quá trình này tạo ra một vết cắt lớn trên bụng ngực và yêu cầu xâm nhập sâu vào hệ hô hấp.
- Phẫu thuật không mở: Phương pháp này sử dụng công nghệ chính xác và công cụ nhỏ để tiến hành quá trình ghép phổi thông qua các ống cắt nhỏ được chèn qua các lỗ tiếp cận trong ngực. Phương pháp này ít gây đau đớn hơn và phục hồi sau phẫu thuật nhanh hơn so với phẫu thuật mở.
4. Hồi phục sau phẫu thuật: Sau khi phẫu thuật ghép phổi hoàn thành, bệnh nhân cần thời gian để hồi phục. Thời gian này một phần dựa vào tình trạng sức khỏe ban đầu và quá trình phẩu thuật. Bệnh nhân sẽ được theo dõi chặt chẽ trong bệnh viện để đảm bảo phổi mới hoạt động bình thường và không có biến chứng.
5. Hỗ trợ sau ghép phổi: Sau khi xuất viện, bệnh nhân sẽ cần tiếp tục hỗ trợ và chăm sóc y tế thường xuyên để đảm bảo chức năng phổi mới tốt nhất có thể. Điều này bao gồm đảm bảo tuân thủ các loại thuốc, tham gia vào chương trình tập thể dục và thay đổi lối sống khỏe mạnh.
Ghép phổi đã đạt được thành công lớn trong việc cải thiện chất lượng sống và tăng tuổi thọ cho những người bị suy giảm chức năng phổi. Tuy nhiên, quá trình ghép phổi là một quy trình phức tạp và rủi ro cao, và đòi hỏi sự chuyên nghiệp và phối hợp giữa các chuyên gia y tế.
Danh sách công bố khoa học về chủ đề "ghép phổi":
Thủ thuật Ross là một phương pháp phẫu thuật trong đó van động mạch chủ bị bệnh được thay thế bằng van phổi của chính người bệnh. Phân đoạn gần của động mạch phổi do đó được đặt ở vị trí động mạch chủ và do đó đột ngột bị phơi bày trước sự gia tăng áp lực máu gấp bảy lần. Dãn nở quá mức của mảnh ghép tự thân từ động mạch phổi là một biến chứng phổ biến và đã gây ra sự quan tâm về sự thích ứng cơ học sinh học trong những tình huống như vậy. Mô hình toán học về sự tăng trưởng và tái cấu trúc là một phương pháp thích hợp để cải thiện những hiểu biết về hiện tượng này.
Chúng tôi đã giới thiệu một thuật toán mô hình hóa sự phân hủy và lắng đọng liên tục của ma trận ngoại bào trong một động mạch theo thuyết hỗn hợp có ràng buộc. Để tính toán những biến đổi theo thời gian của khối lượng collagen và elastin, cũng như suy ra các tính chất cơ học liên quan của động mạch đã tái cấu trúc, chúng tôi đã phân tách thời gian và xác định một số lượng hữu hạn các nhóm cho mỗi gia đình sợi collagen. Tốc độ phân hủy và sản xuất của mỗi nhóm được trung gian hóa bởi sự chênh lệch giữa căng thẳng môi trường và căng thẳng cân bằng trong mỗi nhóm sợi.
Chúng tôi đã áp dụng thuật toán này để dự đoán sự thích ứng của một mảnh ghép tự thân từ động mạch phổi trong một khoảng thời gian dài và so sánh kết quả với dữ liệu thực nghiệm thu được trên cừu. Chúng tôi đã có thể tái tạo nhất quán các hiệu ứng tái cấu trúc được quan sát thực nghiệm như dãn nở và chậm trễ trong việc thu hút sợi collagen. Các mô phỏng của chúng tôi đã tiết lộ cách mà elastin hấp thụ áp lực quá mức tại các vùng mô bị kéo dài quá mức.
Cuối cùng, thuật toán mang lại những kết quả rất hứa hẹn liên quan đến sự thích ứng của mảnh ghép tự thân trong các điều kiện kéo dài quá mức. Công việc tương lai sẽ tập trung vào các tình huống thích ứng mạch máu khác mà trong đó các biến dạng liên quan đến sự tăng trưởng sẽ được xem xét.
Gen nhạy cảm với khối u 101 (Tsg101), một thành phần của phức hợp phân loại nội bào cần thiết cho vận chuyển (phức hợp ESCRT) I, có vai trò trong nhiều quá trình sinh học liên quan đến các cấu trúc màng nội bào và màng tế bào. Vai trò của
Các chuột cái
Các chuột cái
Sự thiếu hụt
Rách phế quản là một biến chứng đe dọa tính mạng sau khi ghép phổi. Nếu không được điều trị bằng cách đặt stent hoặc tái nối lại, khả năng sống sót sẽ phụ thuộc vào sự có sẵn của một mảnh ghép mới. Tuy nhiên, việc ghép lại không phải là một phương án quản lý thực tiễn ở Nhật Bản, nơi thời gian chờ đợi cho việc ghép phổi là rất dài. Chúng tôi đã mô tả một trường hợp rách phế quản hai bên kháng trị được điều trị bằng oxy hóa màng ngoài cơ thể tĩnh mạch - tĩnh mạch (VV ECMO) trong khi cho phép tình trạng rách tự lành.
Một người đàn ông 25 tuổi mắc tăng huyết áp động mạch phổi nguyên phát đã được ghép phổi hai bên. Bệnh nhân đã phát triển tình trạng rách phế quản hai bên. Việc tái nối mổ không thành công và rò khí xảy ra trở lại dưới chế độ thông khí áp lực dương thấp. VV ECMO đã được thiết lập để duy trì oxy hóa với hơi thở tự phát cho đến khi cả hai vị trí rách được đóng lại bởi các dính.
Ở một bệnh nhân với tình trạng rách phế quản hai bên kháng trị, VV ECMO có thể cung cấp sự nghỉ ngơi cho phế quản và đóng vai trò như một liệu pháp cầu nối đến sự phục hồi.
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6